Cũng hơn 2 tuần kể từ ngày có các chỉ số về CPI vs NFP ở Mỹ, và lần trước mình có vài nhận xét ở bài viết này các yếu tố mà FED đang cân nhắc để đi đến quyết định cắt giảm QE và nâng mức lãi suất FFR trong thời gian tới. Ở bài viết này mình liên kết 2 góc độ phân tích vĩ mô về lạm phát và việc làm đang như thế nào và sẽ ảnh hưởng ra sao đến quyết định của FED.

Lạm Phát là gì?

Lạm phát có thể hiểu là việc tăng giá chung của các loại hàng hóa, dịch vụ dẫn đến sự suy giảm sức mua đồng tiền. Lạm phát sẽ trở nên nghiêm trọng khi giá hầu hết các mặt hàng tăng vọt cùng một lúc. Trên thực tế, điều này đã xảy ra ở nhiều nền kinh tế phát triển vào những năm 1970. Chính phủ sẽ đo lường được mức độ lạm phát bằng cách theo dõi mức giá một rổ hàng hóa và dịch mà người tiêu dùng thường xuyên sử dụng, 2 chỉ số kinh tế thường được sử dụng là CPI và PCE-Deflator. Còn thị trường sẽ theo dõi qua mức độ kỳ vọng lạm phát qua chỉ số 5-Year Breakeven Inflation Rate .

Điều gì gây nên lạm phát

Có nhiều yếu tố. Nhà kinh tế học Milton Friedman (trường phái Chivago) đã viết, “Lạm phát là một hiện tượng tiền tệ có thể được tạo ra ở mọi nơi, mọi lúc khi lượng tiền trong nền kinh tế tăng nhanh hơn so với số hàng hóa và dịch vụ sản xuất được”.

“Inflation is always and everywhere a monetary phenomenon in the sense that it is and can be produced only by a more rapid increase in the quantity of money than in output.”

Milton Friedman

Tuy nhiên, vẫn có trường hợp lạm phát không xảy ra dù lượng tiền trong nền kinh tế tăng lên. Đó là khi người dân không chi tiêu quá nhiều. Tức có tăng cung tiền nhưng dòng tiền đó không tác động trực tiếp vào hàng hóa hay nền kinh tế sẽ không gây ra lạm phát.

Ngoài ra, một yếu tố đáng chú ý khác có thể hình thành lạm phát là chính sách tài khóa. Ví dụ, nếu một chính phủ đi vay tiền, thay vì sử dụng một cách tiết kiệm, họ chọn chi tiêu ngay lập tức. Điều này có thể khiến nền kinh tế phát triển quá nóng nếu mức chi của chính phủ vượt quá mức sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng. Thêm vào đó, lạm phát còn có thể trở nên tồi tệ hơn nếu đồng tiền mất giá. Trong trường hợp này, một đồng nội tệ yếu dẫn đến việc nhập khẩu hàng hóa trở nên đắt đỏ hơn. Hàng nhập khẩu đắt hơn sẽ khiến giá hàng hóa và dịch vụ trong nước tăng theo.

Trong một môi trường lạm phát, chẳng hạn như các vấn đề xảy ra vào những năm 1970, người lao động thường kỳ vọng tiền lương của họ sẽ tăng mạnh mỗi năm. Trái lại, các công ty sản xuất lại là đối tượng ưa thích lạm phát dai dẳng. Nguyên nhân là vì khi lạm phát kéo dài thường kéo theo những người tiêu dùng thiếu kiên nhẫn, sẵn sàng chấp nhận chi tiêu ngay cả khi giá cả tăng cao. Điều này cho phép các công ty dễ dàng tăng tỷ suất sinh lời bằng cách nâng giá hàng hóa và dịch vụ họ cung cấp. Do đó, các doanh nghiệp không cần quá chú trọng đến vấn đề nâng cao hiệu quả công việc kinh doanh của mình.

Cuối cùng, tâm lý người tiêu dùng cũng sẽ ảnh hưởng đến lạm phát. Nếu số đông kỳ vọng lạm phát tăng cao, họ sẽ hành xử theo những cách củng cố quan điểm của mình – và ngược lại. Ví dụ, khi lạm phát tăng vọt vào những năm 1970, người lao động sẽ kỳ vọng tiền lương của mình tăng mạnh mỗi năm, và đồng thời họ cũng thể hiện hành vi lạm phát bằng cách tự tạo thêm nhiều nhu cầu để đón đầu việc tăng giá trong tương lai. Do đó, đứng từ góc độ của các ngân hàng trung ương, điều tối quan trọng là phải hành động và đưa ra thái độ đúng đắn đối với vấn đề kỳ vọng lạm phát từ người dân.

Tại sao chúng ta nên lo sợ lạm phát

Sức mua sẽ không đổi nếu tiền lương tăng cùng với lạm phát, vậy tại sao chúng ta phải quan tâm đến vấn đề này?

Thứ nhất, khi lạm phát trở nên phổ biến, nó tạo ra sự không chắc chắn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Họ chắc chắn sẽ yêu cầu phần bù rủi ro cao hơn để bù đắp cho sự bất ổn về giá do lạm phát gây ra. Một số quốc gia có lịch sử lạm phát sẽ bị đánh lãi suất cho vay cao hơn rất nhiều, do đó, điều này ngăn cản các hoạt động đầu tư kinh doanh và làm suy giảm sự tăng trưởng kinh tế.

Thứ hai, lạm phát làm cho người tiêu dùng khó nhận biết sự thay đổi về giá và làm suy giảm cảm quan của họ. Vì vậy, các doanh nghiệp thường không có nhu cầu đầu tư vào công việc sản xuất hoặc nâng cao năng lực kinh doanh của mình. Không phải ngẫu nhiên thời kỳ lạm phát những 1970 lại là lúc mà tăng trưởng năng suất rất thấp.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng một ít lạm phát sẽ là chất bôi trơn cho bánh xe thương mại được chuyển động thuận lợi. Ngược lại, giảm phát cũng gây thiệt hại không kém gì lạm phát quá mức. Giảm phát dẫn đến việc tiền lương được điều chỉnh giảm theo việc lạm phát suy yếu, điều này có thể ngăn cản tăng trưởng việc làm và triển vọng kinh doanh.

Chỉ số CPI tháng rồi có gì?

CPI tháng 7 vẫn cao ở mức 5,4% (trong khi tháng 6 cũng ở mức 5,4%), con số này cao hơn một chút so với mức ước tính của Bloomberg là 5,3%. Đây cũng là tỷ lệ lạm phát cao nhất kể từ tháng 8 năm 2008 (5,3%). Ngoài ra, cũng cần phải lưu ý rằng CPI tăng với tốc độ chậm hơn với 0,5%/tháng trong tháng 7 (giảm từ 0,9%/tháng trong tháng 6).

Tuy nhiên, các thông tin chi tiết trong bản công đã bố ủng hộ quan điểm lạm phát tăng vọt như gần đây sẽ không kéo dài. Nguyên nhân là vì mức giá trong rổ tính lạm phát liên quan chặt chẽ với vấn đề hạn chế nguồn cung (mà vấn đề này đã bắt đầu giảm bớt). Thế nhưng, vẫn còn đó những bằng chứng đối nghịch cho thấy áp lực tăng giá chưa hẳn đã qua đi hoàn toàn, và tồn tại rủi ro lạm phát tiếp tục “nóng lên”  thêm nữa trong một khoảng thời gian tới. Các chuyên gia đang lo ngại khả năng lạm phát thực tế cao hơn so với mức tính toán hay kỳ vọng ở hiện tại và dễ đẩy nền kinh tế rơi vào tình trạng “đình lạm” (stagflation) y như những gì đã xảy ra năm 1970.

Cần nói thêm về chỉ số PPI tăng 7,8% (yoy), nếu lạm phát đầu vào tăng (chi phí đẩy) thì người tiêu dùng sẽ ảnh hưởng bởi sự chuyển áp lực chi phí từ doanh nghiệp lên người tiêu dùng. Việc chủ yếu ảnh hưởng đến là do vấn đề chi phí ở chuỗi cung ứng, điển hình như việc lockdown ở cảng sẽ đẩy chi phí logistic tăng vọt và áp lực chi phi đẩy sẽ ảnh hưởng đến giá cả và lạm phát nói chung. Việc rối loạn chuỗi cung ứng như 2020 bởi biến chủng Delta hiện sẽ là rủi ro chính ảnh hưởng đến vấn đề việc làm và ảnh hưởng đến quyết định công bố việc Tapering trong thời gian tới.

Khi vẫn còn đó một số mặt hàng bị tác động nghiêm trọng bởi COVID-19 và/hoặc chịu áp lực từ việc đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, mình cho rằng xu hướng lạm phát lâu dài của một số mặt hàng này (chẳng hạn như lương thực và năng lượng) đang tăng với tốc độ nhanh hơn. Do đó, chúng ta nhiều khả năng sẽ chứng kiến sự phân hóa tiếp diễn giữa chỉ số lạm phát thông thường và chỉ lạm phát lõi (core inflation) trong khoảng thời gian vài tháng tới.

Trong khi các thành viên FOMC hầu như đồng ý với nhau rằng tiêu chí về mức độ lạm phát của họ trong khái niệm “tiến bộ đáng kể hơn nữa” đã dần được đáp ứng, có một thực tế là mức kỳ vọng lạm phát vẫn đang duy trì khá cao cho phép họ có thêm một khoảng thời gian nữa để tìm kiếm tiếng nói chung trong vấn đề thị trường lao động.

Trong ngắn hạn, mình dự đoán mức giá các loại hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng hầu như không thể sử dụng trong năm qua tiếp tục tăng với tốc độ cao. Trái lại, giá xe ô tô đã qua sử dụng sẽ giảm bớt sau một loạt đà tăng phi mã gần đây. Tuy vậy, mình thấy khả năng vẫn còn đó nguy cơ lạm phát lan tỏa rộng hơn nữa trên khắp các mặt hàng cho đến hết 2022. Quan điểm về lạm phát có thể sẽ hạ nhiệt theo mục tiêu của FED vào năm 2022. FED vẫn sẽ duy trì các biện pháp nới lỏng của mình cho đến khi xuất hiện nhiều hơn những bằng chứng về việc nền kinh tế đang phục hồi ở thị trường lao động.

Thị trường việc làm đang nóng dần lên

Báo cáo việc làm tháng 7 đã khiến FED phải theo dõi tình hình chặt chẽ hơn để bắt đầu cắt giảm dần chương trình mua trái phiếu của mình. Các nhà tuyển dụng đã có thêm 943 nghìn việc làm trong tháng 7 và việc tuyển dụng đã được điều chỉnh cao hơn so với hai tháng trước đó. Đà tăng này, như một lẽ tất yếu, khiến ngày càng có nhiều cuộc tranh luận về việc: Liệu đến khi nào thì thị trường lao động sẽ đáp ứng được các tiêu chí của FOMC trong khái niệm “tiến bộ đáng kể hơn nữa”?

Trong khi đã có một số chỉ báo bắt đầu cho thấy vấn đề thiếu hụt lao động tiếp tục được suy giảm, sự lây lan của biến thể Delta lại làm triển vọng kinh tế trở nên u ám. Tuy các quan chức FED có thể hài lòng với những chuyển biến tích cực của nền kinh tế trong tháng 7, mình cho rằng họ sẽ vẫn muốn thấy một sự phục hồi mạnh mẽ và vững vàng hơn nữa. 

Nếu nhìn kỹ vào từng khu vực trong nền kinh tế, ngành dịch vụ một lần nữa tiên phong thúc đẩy sự tăng trưởng. Ngoài ra, vấn đề việc làm hồi phục ổn định đã giúp tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 7 giảm xuống mức 5.4% (vượt con số dự kiến 5.9%). Đặc biệt hơn nữa, tỷ lệ thất nghiệp đang giảm mạnh từ mức cao nhất trong thời đại dịch bệnh, mốc 14,8% vào tháng 7 năm ngoái. Tuy nhiên, mình thấy hiện vẫn còn đó một số hạn chế về vấn đề nguồn cung lao động đang cản trở khu vực tư nhân trong việc tăng trưởng mạnh hơn nữa.

Cùng cần lưu ý rằng sự tham gia của tầng lớp lao động vẫn đang diễn ra trong thời điểm hậu đại dịch. Điều đó cho thấy mức độ sẵn sàng của họ vẫn là một thách thức. Nỗi sợ hãi về việc mắc phải COVID trong bối cảnh biến thể Delta đã lan rộng khắp nước Mỹ vẫn là một trở ngại to lớn khi phải quay trở lại công ty hay nhà máy. Thêm vào đó, trách nhiệm chăm sóc con cái hay tiền trợ cấp thất nghiệp quá hậu hĩnh cũng là những nguyên nhân cơ bản cản trở thị trường việc làm.

Cần một tầm nhìn rộng hơn về nguồn cung lao động

Những thách thức về vấn đề nguồn cung sẽ tiếp tục tạo áp lực lên tăng trưởng tiền lương. Trong vòng vài tháng tài, các gói hỗ trợ tài chính cá nhân sẽ dần dần đi đến hồi kết, và như vậy, tiền lương của người lao động nên được gia tăng để bù đắp cho phần mất đi ở khoản thu nhập cá nhân. Chưa kể đến sự khuyến khích về tài chính cao hơn tăng từ mức lương gia tăng có thể kéo nhiều đang thất nghiệp trở lại nơi công sở. Trong hoàn cảnh thiếu hụt nguồn nhân lực như hiện nay, lợi thế mặc cả đang nằm trong tay người lao động. Họ có thể cân đo đong đếm lựa chọn cho mình một công việc phù hợp nhất, thay vì buộc phải gật đầu cho những cơ hội đầu tiên.

Hiện có khá ít các tác nhân đáng chú ý hiện gây ra hiện tượng hạn chế nguồn cung lao động, nhưng có thể chúng sẽ suy giảm trong mùa thu này. Nếu các yếu tố này thật sự biến mất, công việc tuyển dụng gần như chắc chắn tiếp tục tăng mạnh. Tuy nhiên, sự gia tăng của biến thể Delta có thể khiến việc phục hồi lao động diễn ra chậm hơn so với dự kiến ban đầu của dự đoán. Câu chuyện không chỉ là về mối lo ngại sức khỏe, mà ngay cả khi trường học mở trở lại, khả năng dịch bệnh bùng phát sẽ khiến nhiều trẻ em buộc phải quay về nhà, khiến một số phụ huynh khó cam kết với công việc mới.

Kết Luận

Từ góc độ của FED, một báo cáo co triển vọng tốt sẽ giúp họ tiến nhanh hơn trong quá trình thực hiện quyết định tapering. Tuy nhiên, mình kỳ vọng họ vẫn sẽ muốn xem xét ít nhất trên 2 báo cáo trước khi sẵn sàng giảm tải các chính sách hỗ trợ. Thêm vào đó, mình cho rằng FED sẽ muốn thấy con số chênh lệch việc làm hiện nay so với mức trước đại dịch có sự giảm thiểu đáng kể. Điều này có nghĩa là một báo cáo mạnh mẽ khác cho tháng 8 có thể khiến FED sẵn sàng thông báo taper vào tháng 9. Mặc dù vậy, mình giữ niềm tin về việc họ nhiều khả năng sẽ trì hoãn hành động cho đến đầu Q4, nhằm có một cái nhìn rõ ràng hơn về vấn đề giảm thiểu căng thẳng nguồn cung lao động và sự chuyển biến của biến thể Delta.

Do tháng 9 có thể vẫn còn quá sớm để khẳng định bất cứ điều gì về thị trường việc làm. Mặc dù tiến độ bổ sung nhân lực là một vấn đề đáng chú ý, mình không kỳ vọng nó sẽ đủ để phần lớn các quan FED bắt đầu triển khai kế hoạch taper của họ ngay sau cuộc họp ngày 22/9. Nhiều khả năng, chỉ khi nào báo cáo việc làm tháng 10 được công bố (ngày 5/11, hai ngày sau khi cuộc họp FOMC tháng 11 kết thúc), thì chúng ta mới có được câu trả lời chính xác hơn về việc liệu sự yếu kém hiện tại trong nguồn cung lao động chủ yếu bắt nguồn từ những vấn đề ngắn hạn, hay là do những tổn thương dai dẳng kéo dài. Cho dù báo cáo này chắc chắn đưa FED tiến gần hơn đến ngưỡng “tiến bộ đáng kể hơn nữa”, các quan chức chủ chốt của FED vẫn có thể nhận thấy một vài khía cạnh cần thiết sự hồi phục.

Nhiều khả năng FED sẽ tiếp tục thừa nhận tiến độ hồi phục trong cuộc họp tháng 9, và họ có thể sẽ chuẩn bị tâm thế bắt đầu thực hiện taper trong những tháng tiếp sau nếu thị trường lao động vững chắc. Tuy nhiên những gợi ý đầu tiên về việc cắt giảm QE có thể được đưa ra trong Hội nghị Jackson Hole (ngày 26 tháng 8) và FED tiếp tục cam kết về mốc thời gian thực hiện taper trong cuộc họp FOMC ngày 21/22 tháng 9/2021. Mình nghĩ đợt taper đầu tiên diễn ra vào tháng 12/2021. Quá trình này sẽ kéo dài gần 1,5 năm cho đến tháng 5/2023. Nhưng rủi ro về biến thể Delta ở Mỹ sẽ vẫn là mối nguy treo lơ lủng đối với việc phục hồi thị trường lao động.